TỶ LỆ BỆNH DA VÀ ỨNG DỤNG THANG ĐIỂM DLQI ĐỂ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA BỘ ĐỘI SƯ ĐOÀN 367, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
DOI:
https://doi.org/10.59354/ydth175.2025.401Từ khóa:
Tỷ lệ bệnh da, các yếu tố liên quan, chất lượng cuộc sống, bộ độiTóm tắt
Mục tiêu: Xác định tỷ lệ bệnh da hiện mắc, một số yếu tố liên quan đến bệnh da trên bộ đội và đánh giá ảnh hưởng bệnh da lên chất lượng cuộc sống bộ đội.
Đối tượng nghiên cứu: Bộ đội Sư đoàn 367 - TP Hồ Chí Minh, đủ các tiêu chuẩn chọn vào và không thuộc tiêu chuẩn loại trừ từ tháng 12/2022 đến tháng 8/2023.
Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang.
Kết quả: Trong số 201 bộ đội Sư đoàn 367 có 40,30% bộ đội mắc bệnh da. Bệnh áp xe da, nhọt chiếm tỷ lệ cao nhất là 24,38%. Phần lớn bộ đội mắc bệnh da sau nhập ngũ 1 tháng đến dưới 6 tháng (55,56%). Cấp bậc càng thấp, thời gian tham gia quân ngũ càng dài thì chênh lệch mắc bệnh da cao hơn. Những bộ đội có tuổi quân 1 tháng đến dưới 6 tháng có chênh lệch mắc bệnh áp xe da, nhọt cao hơn gấp 1,89 lần so với nhóm tuổi quân từ 6 tháng đến dưới 2 năm. Nhóm bộ đội không tắm ngay sau lao động có chênh lệch mắc bệnh sẩn ngứa cao hơn gấp 9,09 lần so với nhóm bộ đội có tắm ngay sau lao động. Có 42,68% bộ đội mắc bệnh da cảm thấy bệnh da ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống với điểm DLQI trung bình 10,81 ± 6,52 (DLQI: Dermatology Life Quality Index - Điểm chất lượng cuộc sống của bệnh nhân mắc bệnh da). Nhóm bị bệnh da sau nhập ngũ 1 tháng đến dưới 6 tháng có điểm DLQI cao nhất (12,22 ± 6,23). Điểm DLQI trung bình của nhóm bộ đội mắc bệnh sẩn ngứa cao hơn 6,14 ± 2,10 điểm và của nhóm bộ đội mắc bệnh áp xe da, nhọt cao hơn 3,26 ± 1,44 điểm so với điểm DLQI của nhóm bộ đội mắc bệnh da khác có ý nghĩa thống kê.
Kết luận: Tỷ lệ mắc bệnh da ở bộ đội Sư đoàn 367 tương đối cao (40,30%), thường gặp nhất là bệnh áp xe da, nhọt (24,38%). Bệnh da ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống của bộ đội Sư đoàn 367, đặc biệt nhóm bộ đội nhập ngũ 1 tháng đến dưới 6 tháng và nhóm mắc bệnh áp xe da, nhọt và sẩn ngứa
Tài liệu tham khảo
1. Phạm Hoàng Khâm. (2000 - 2009). Nghiên cứu cơ cấu bệnh tại khoa Da bệnh viện 103. Tạp chí Y học Việt Nam, 2010 (1), tr.69-74.
2. Lê Anh Tuấn. (2006). Nghiên cứu tình hình, đặc điểm lâm sàng, một số yếu tố liên quan và kết quả điều trị bệnh viêm da dầu bằng kem Ketoconazonle và kem Corticoid. Đại học Y Hà Nội, Hà Nội.
3. Nguyễn Cảnh Cầu. (1994). Tình hình bệnh da trong quân đội 5 năm 1985- 1989 và phương hướng phòng chống. Báo cáo tóm tắt khoa học, Học viện Quân Y.
4. Nguyễn Thị Đào, Nguyễn Tất Thắng. (2009). Tỷ lệ bệnh da và những yếu tố liên quan trên học viên trường Cao đẳng Quân sự Quân đoàn 4. Y Học TP Hồ Chí Minh, 13 (1).
5. Mai Thị Cẩm Cát, Mai Bá Hoàng Anh. (2021). Mô hình bệnh da ở đối tượng trên 15 tuổi tại Phòng khám Da Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế. Tạp chí Y học lâm sàng, 70 (1).


