KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NỘI SOI KẾT HỢP NỘI SOI ĐƯỜNG MẬT TÁN SỎI TRONG MỔ ĐIỀU TRỊ SỎI ĐƯỜNG MẬT TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 175
DOI:
https://doi.org/10.59354/ydth175.2025.408Từ khóa:
sỏi đường mật, ống soi mềm, tán sỏi đường mậtTóm tắt
Đặt vấn đề: Sỏi đường mật là một bệnh lý phổ biến ở Việt Nam với đặc điểm dễ sót sỏi và tái phát nên việc điều trị thường dai dẳng, khó khăn. Hiện nay, sử dụng ống soi đường mật và dụng cụ tán sỏi trong mổ đã giúp cho việc điều trị sỏi đường mật trở lên hiệu quả hơn và đặc biệt có thể thực hiện bằng phẫu thuật nội soi (PTNS) giúp cải thiện tốt hơn phục hồi sau mổ.
Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên một số đặc điểm của bệnh nhân (BN) sỏi đường mật và kết quả điều trị bằng phẫu thuật nội soi kết hợp nội soi đường mật tán sỏi trong mổ. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả, tiến cứu không nhóm chứng trên những BN sỏi đường mật, được điều trị bằng PTNS kết hợp nội soi đường mật tán sỏi tại Khoa Ngoại bụng, Bệnh viện Quân y 175 từ tháng 6/2021 đến tháng 6/2024.
Kết quả: Có 54 BN được nghiên cứu, với độ tuổi trung bình là 58,6 (28-83) tuổi; tỉ lệ nữ/nam là 1,8. Tiền căn phẫu thuật sỏi đường mật gặp ở 10 BN (18,6%). Thời gian phẫu thuật trung bình 109,9±31,3 (60-200) phút; tỉ lệ chuyển mổ mở 3,7%; tỉ lệ sạch sỏi lần đầu là 84,6%, thời gian nằm viện trung bình 7,7 (6-25) ngày, tỉ lệ tai biến trong mổ và biến chứng sau mổ lần lượt là 1,9% và 5,8%.
Kết luận: Phẫu thuật nội soi kết hợp nội soi đường mật tán sỏi trong mổ điều trị sỏi đường mật là thủ thuật hiệu quả với tỉ lệ sạch sỏi lần đầu cao, tai biến trong mổ và sau mổ thấp.
Tài liệu tham khảo
1.Nguyễn Đình Hối (2012). Sỏi đường mật, Nhà xuất bản y học, trang 103 - 127.
2.Tanaja J., Lopez R.A., and Meer J.M. (2023). Cholelithiasis. StatPearls. StatPearls Publishing, Treasure Island (FL).
3.Ebner S., Müller W., Beller S., et al. (2006). Laparoscopic common bile duct exploration. Eur Surg, 38(3), 171–175.
4.La Văn Phú (2021). “Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi kết hợp nội soi đường mật trong mổ điều trị sỏi đường mật chính ở bệnh nhân cao tuổi”. Luận án tiến sĩ y học, Trường Đại học y dược Cần Thơ.
5.Nguyễn Quốc Hùng (1995). Đánh giá kết quả phẫu thuật sỏi đường mật trên 204 bệnh nhân tại khoa ngoại BV Quân y 103 (1/1991 – 5/1994). Ngoại khoa, Chuyên đề 9, tr.334-338.
6.Nguyễn Sinh Cung (2012).” Đánh giá kết quả phẫu thuật nội soi trong điều trị sỏi đường mật chính ngoài gan có chụp cộng hường từ”. Luận văn thạc sỹ y học, Trường Đại học Y Hà Nội.
7.Sử Quốc Khởi (2019). “Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi mở ống mật chủ lấy sỏi đường mật chính tại Bệnh viện Đa khoa Kiên Giang”. Luận án tiến sĩ y học, Học viện Quân y.
8.Trần Cảnh Đức, Lê Nguyên Khôi, (2019). “Xác định giá trị của chụp cắt lớp điện toán trong chẩn đoán sỏi đường mật chính.” Y Học TP Hồ Chí Minh, 17(4), tr. 66-71.
9.Nguyễn Hoàng Bắc (2007). Chỉ định của phẫu thuật nội soi trong điều trị sỏi đường mật chính. Nhà xuất bản y học, trang 307 - 308
10. Lee H.M., Min S.K., and Lee H.K. (2014). Long-term results of laparoscopic common bile duct exploration by choledochotomy for choledocholithiasis: 15-year experience from a single center. Annals of Surgical Treatment and Research, 86(1), 1.
11. Wu X., Huang Z.-J., Zhong J.-Y., et al. (2019). Laparoscopic common bile duct exploration with primary closure is safe for management of choledocholithiasis in elderly patients. Hepatobiliary Pancreat Dis Int, 18(6), 557–561.
12. Lê Văn Lợi, Lê Văn Thành. (2021). Đánh giá kết quả điều trị sỏi đường mật trong gan bằng phẫu thuật nội soi và sử dụng ống soi mềm tán thủy lực qua ống nối mật da tại Bệnh viện Trung ương quân đội 108. VMJ, 498(1)


