SPACE CLOSURE OUTCOMES AND ASSOCIATED FACTORS IN ORTHODONTIC TREATMENT USING MINI-IMPLANTS: A RETROSPECTIVE STUDY AT MILITARY HOSPITAL 175
DOI:
https://doi.org/10.59354/ydth175.2026.504Keywords:
mini-implant, space closure, temporary anchorage, orthodontics, lateral cephalogramAbstract
Mục tiêu: Đánh giá kết quả đóng khoảng trong điều trị chỉnh nha có sử dụng mini-implant và nhận xét một số yếu tố lâm sàng, cận lâm sàng ảnh hưởng đến kết quả điều trị.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả kết hợp phân tích, hồi cứu trên 22 bệnh nhân được điều trị chỉnh nha tại Khoa Răng, Bệnh viện Quân y 175, với 56 mini-implant tương ứng với 56 khoảng đóng. Trong nghiên cứu này, mini-implant/khoảng đóng được xem là đơn vị phân tích; do đó 56 mini-implant là số quan sát được đưa vào phân tích và cũng là cỡ mẫu đạt được của nghiên cứu. Các biến số được thu thập gồm đặc điểm chung của bệnh nhân, đặc điểm lâm sàng của các khoảng đóng, các yếu tố tại chỗ quanh mini-implant và các chỉ số trên phim sọ nghiêng. Dữ liệu được xử lý bằng các phép thống kê mô tả, phân tích tương quan, so sánh và mô hình hỗn hợp tuyến tính. Nghiên cứu tuân thủ các nguyên tắc y đức trong nghiên cứu y sinh học, thông tin người bệnh được bảo mật và chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu.
Kết quả: Tuổi bắt đầu điều trị trung bình là 21,32 ± 5,77 tuổi. Khoảng cần đóng trung bình là 6,40 ± 1,73 mm; thời gian đóng khoảng trung bình là 11,95 ± 3,55 tháng; tốc độ đóng khoảng trung bình là 0,55 ± 0,14 mm/tháng. Các thay đổi sau điều trị trên phim sọ nghiêng chủ yếu tập trung ở nhóm chỉ số răng hơn là nhóm chỉ số xương. Khoảng cần đóng là yếu tố liên quan mạnh nhất đến cả thời gian và tốc độ đóng khoảng. Lực đóng khoảng cũng có mối liên quan với kết quả điều trị. Các yếu tố như công cụ đóng khoảng, số lượng mini-implant và một số yếu tố tại chỗ quanh mini implant chưa cho thấy mối liên quan độc lập rõ ràng trong mô hình đa biến.
Kết luận: Trong nhóm bệnh nhân được điều trị bằng mini-implant, nghiên cứu ghi nhận kết quả đóng khoảng thuận lợi với khả năng kiểm soát neo chặn tốt. Kết quả đóng khoảng chủ yếu liên quan đến khoảng cần đóng và đặc điểm hệ thống lực. Do không có nhóm chứng, nghiên cứu không nhằm so sánh hiệu quả giữa mini-implant và các phương pháp neo chặn khác, đặc biệt ở các trường hợp có yêu cầu neo chặn cao. Kết quả đóng khoảng chịu ảnh hưởng chủ yếu bởi khoảng cần đóng và đặc điểm hệ thống lực. Việc kết hợp đánh giá lâm sàng với phân tích phim sọ nghiêng giúp nhận định đầy đủ hơn hiệu quả và chất lượng điều trị
References
[1] Proffit WR, Fields HW, Larson B, Sarver DM (2019). Contemporary Orthodontics. 6th ed. Elsevier, St. Louis.
[2] Antoszewska-Smith J, Sarul M, Łyczek J, Konopka T, Kawala B (2017). Effectiveness of orthodontic miniscrew implants in anchorage reinforcement during en-masse retraction: a systematic review and meta-analysis. American Journal of Orthodontics and Dentofacial Orthopedics, 151(3), 440-455.
[3] Becker K, Pliska A, Busch C, Wilmes B, Wolf M, Drescher D (2018). Efficacy of orthodontic mini-implants for en-masse retraction in the maxilla: a systematic review and meta-analysis. International Journal of Implant Dentistry, 4(1), 35.
[4] Dudic A, Giannopoulou C, Kiliaridis S (2013). Factors related to the rate of orthodontically induced tooth movement. American Journal of Orthodontics and Dentofacial Orthopedics, 143(5), 616-621.
[5] Krishnan V, Davidovitch Z (2006). Cellular, molecular, and tissue-level reactions to orthodontic force. American Journal of Orthodontics and Dentofacial Orthopedics, 129(4), 469. e1-469.e32.
[6] Mohammed H, Wafaie K, Rizk MZ, Almuzian M (2018). Effectiveness of nickel-titanium springs versus elastomeric chains in orthodontic space closure: a systematic review and meta analysis. Korean Journal of Orthodontics, 48(4), 224-235.
[7] Alharbi F, Almuzian M, Bearn D (2018). Miniscrews failure rate in orthodontics: systematic review and meta-analysis. European Journal of Orthodontics, 40(5), 519-530.
[8] Võ Thị Thúy Hồng, Trịnh Đình Hải (2025). Sự thay đổi các chỉ số trên phim sọ nghiêng trên bệnh nhân nhổ răng sử dụng vít neo chặn kéo lùi khối răng cửa. Tạp chí Y học Việt Nam, 548(3).
[9] Lê Nguyễn Thùy Dương, Trương Thị Bích Ngân, Lê Nguyên Lâm (2023). Đánh giá kết quả điều trị sai khớp cắn loại I theo Angle có kéo lùi khối răng trước hàm trên bằng dây phân đoạn và vít hỗ trợ. Tạp chí Y Dược học Cần Thơ, 64, 130-137.
[10] Jacobson A, Jacobson RL (2006). Radiographic Cephalometry: From Basics to 3-D Imaging. 2nd ed. Quintessence Publishing, Chicago.
