ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH NHÂN RẮN LỤC CẮN TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 175
DOI:
https://doi.org/10.59354/ydth175.2026.450Từ khóa:
Rắn lục cắn, rắn lục đuôi đỏ, rối loạn đông máu, huyết thanh kháng nọc rắn, Bệnh viện Quân y 175Tóm tắt
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá hiệu quả điều trị ở bệnh nhân bị rắn lục cắn được điều trị tại khoa Bệnh nghề nghiệp và Huyết học lâm sàng (A25), Bệnh viện Quân y 175.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả loạt ca, tiến cứu trên 38 bệnh nhân bị rắn lục cắn điều trị tại khoa A25 trong giai đoạn từ tháng 01 đến tháng 12 năm 2023.
Kết quả: Phần lớn bệnh nhân là nam giới (60,5%), tuổi trung vị 44,7 (Q1-Q3: 29,5-60,2). Tai nạn xảy ra chủ yếu vào mùa mưa (82,5%) và buổi tối (57,9%). Rắn lục đuôi đỏ (Trimeresurus albolabris) là tác nhân gây bệnh phổ biến nhất (81,6%). Các biểu hiện lâm sàng thường gặp bao gồm: đau mức độ vừa (60,5%), phù nề tại chỗ (36,8% khu trú; 34,2% lan rộng >50 cm), bầm tím (84,2%). Kết quả test đông máu 20 phút dương tính ở 97,4% trường hợp. Rối loạn đông máu đặc trưng là giảm fibrinogen (26,3% tại thời điểm nhập viện). Phần lớn bệnh nhân (94,8%) ở mức độ trung bình, không có trường hợp nào diễn tiến nặng. Huyết thanh kháng nọc rắn (HTKNR) đặc hiệu được sử dụng 89,5% bệnh nhân, trong đó 67,6% chỉ cần 1 liều. Sau 48 giờ điều trị, 100% bệnh nhân giảm đau đáng kể. Tỷ lệ khỏi bệnh đạt 94,8%, thời gian nằm viện trung bình 4,5 ngày. Mức fibrinogen có mối tương quan nghịch có ý nghĩa thống kê với mức độ phù nề (p=0,002).
Kết luận: Rắn lục cắn chủ yếu xảy ra vào mùa mưa, gây tổn thương tại chỗ kèm rối loạn đông máu. Điều trị bằng huyết thanh kháng nọc rắn mang lại hiệu quả cao.
Tài liệu tham khảo
1. Kasturiratne A, Wickremasinghe AR, Silva N de, et al. The Global Burden of Snakebite: A Literature Analysis and Modelling Based on Regional Estimates of Envenoming and Deaths. PLOS Medicine. 2008;5(11):e218.
2. Damm M, Hempel BF, Süssmuth RD. Old World Vipers—A Review about Snake Venom Proteomics of Viperinae and Their Variations. Toxins. 2021;13(6):427.
3. Dang Xuan Thi, Nguyen Thanh Xuan , Nguyen Thi Thu Hoai, Ha Tran Hung. Coagulopathy After Viper Snakebite in Vietnam and Relationship with Time of Admission. Journal of Multidisciplinary Healthcare. 2021;14:1259-1265.
4. Nguyễn Thị Huỳnh Như, Nguyễn Trung Hậu, Nguyễn Thành Nam. Đặc điểm dịch tễ học, lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhi bị rắn cắn tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tiền Giang. Tạp chí Y học Việt Nam. 2023;525(1B).
5. Vũ Thị Diễm Quỳnh, Nguyễn Văn Thủy, Vũ Thị Thủy, Nguyễn Thu Hằng. Khảo sát đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng ở bệnh nhân bị rắn lục tre cắn. VMJ. 2022;518(2).
6. Vo Van Thang, Truong Quy Quoc Bao, Hoang Dinh Tuyen, et al. Incidence of snakebites in Can Tho Municipality, Mekong Delta, South Vietnam—Evaluation of the responsible snake species and treatment of snakebite envenoming. PLOS Neglected Tropical Diseases. 2020;14(6).
7. Looareesuwan, S., Viravan, C., Warrell, D. A., et al. (2007). Green pit viper (Trimeresurus albolabris and T. macrops) venom antigenaemia and kinetics in humans. Tropical Doctor, 37(4), 207-210. https://doi.org/10.1258/004947507782332838.
8. Bệnh viện quân y 175. Phác đồ điều trị 2019 - Phần nội khoa. Rắn độc cắn. 2019: 60-61.
